Đô Thống Thuật và Họ Đỗ
''Yêu mến tặng hai con trai Tế, Lưu và gia đình để hồi tưởng về nguồn gốc của mình mai sau. Meridian ngày 2 tháng 9 năm 1982 Mẹ thân ái ''
Lời Mở Đầu
Nhân dịp tang lễ của mẹ tôi Đỗ thị Loan (biệt hiệu Đỗ Trác Tư) vào cuối năm 2001 tại Boise, Idaho, tôi đã được một cơ hội duy nhất để biểu lộ cảm nghĩ riêng của mình về một người mẹ. Bà đã rời khỏi cuộc đời dài hơn 88 năm, một quãng đường song song với lịch sử quê hương trong suốt thế kỷ 20. Khi bước vào cõi sống bên kia, mẹ tôi đã không để lại một tí tiền nong vật chất gì, mà chỉ còn cái giá trị tinh thần cùng tấm lòng hy sinh bà đã giao lại cho các thế hệ sau. Chủ yếu bà chỉ muốn phục hồi danh dự và tiếng tăm gia đình họ Đỗ.
Vậy một trang sử của một thời đại đã được lật qua với tập hồi ký này. Đây cũng là cơ hội để nhớ đến và hồi tưởng một thời oanh liệt nay còn đâu của một giòng họ đã từng vẫy vùng trên đất Bắc. Những sự kiện và biến cố mẹ tôi đã thu thập sẽ được ghi sâu và gây ra nhiều hoài niệm cho con cháu. Những lời tôi đã nói lên khi mẹ tôi mất, những cảm xúc ấy tôi vẫn nhớ đến như một sự kiện đã xảy ra ngày hôm qua... Nguyễn Đăng Lưu, 10/04/2019
Viết Hồi Ký của Đỗ Trác Tư
Lần này là lần thứ ba tôi lại viết hồi ký, mấy lần trước đã viết được khá nhiều, nhưng mỗi lần di chuyển hay chạy, lại vứt bỏ. Thiên hạ hay nói: quá tam ba lần như vậy chắc lần này sẽ hoàn thành được. Cứ tin tưởng như thế!
Người ta thường nói đến những hồi ký của các vị có danh tiếng như ông vua Ba Tư, tổng thống De Gaulle hoặc những chính khách lỗi lạc như Winston Churcill, Lord Mounbatten... Nhưng những người thưòng dân họ cũng viết...vì trong mỗi người đều có nhũng kỷ niệm, những mối tâm sự mà chưa muốn quên, chưa muốn im lặng để mang xuống Tuyền Đài!
Phần tôi, tôi muốn viết hồi ký trước hết cũng là do những kỷ niệm mà tôi chưa muốn quên: những biến chuyển của đại gia đình, của tổ quốc và nhất là tôi muốn nói lên những sự thật mà đời tôi đã được tai nghe mắt thấy. Cuốn hồi ký này tôi đều dùng những tên thực, chuyện hay, chuyện dở đều là có thực, không dấu diếm. Cốt ý là để lưu lại cho con cháu một giòng họ những quãng đời cũng khá nhiều sự nghiệp oanh liệt, cũng như những gì vui tai thích mắt của những phần tử trong đại gia đình và xã hội thời bấy giờ.
Cụ Đô Thống
Cuốn ''Hoa Vông Vang'' của Đỗ Tốn (nhóm Tự Lực Văn Đoàn xuất bản) có nói đến cụ Đô và phần nhiều nói cụ Đô nóng tính. Sự thật không hoàn toàn như vậy! Cụ Đô trong cuốn Hoa Vông Vang là nội tổ của chúng tôi. Cả họ đều yêu mến kính nể, trừ một vài phần tử ngỗ nghịch trong gia đình, mà cũng có thể nói: không những cả họ mà còn nhiều người trong xứ Bắc Kỳ, trong nước VN, cũng mến thương và kính nể. Cụ hay nói to, mỗi khi nghe thấy ''oang oang'' trên lầu, ai cũng tưởng có cãi nhau gì rồi, nhưng chỉ là cụ tiếp kiến một ông bạn nào đó thôi! Tiếng cụ vang lên rầm rộ như vậy, nếu một người nào thích nghe những người rủ rỉ êm dịu chắc không mấy thích! Đừng nói đến lúc cụ giận dữ thực sự thì con cháu phải hết vía cả!
Còn một cuốn sách nữa có nói đến tên cụ Đô là cuốn ''Cảnh Đức Chấn Đào Lục'' của cụ Vương Hồng Sển viết về đồ cổ. Cụ Vương Hồng sển không hề được biết cụ Đô là ai. Cụ đọc trong một tập sách nào đó nói về đồ cổ. Trong đó có nói đến các mẫu tháp được xây cất đó là các tháp nhỏ, hình vuông, bằng sứ tráng men trắng ngà, cao độ 1m, xung quanh tháp, từ chân cho đến ngọn tháp đều có đắp nặn những hình tượng Phật đứng liền liền với nhau, từ dưới lên trên...Bắt đầu từ chân tháp thì tượng Phật đắp nặn to, rồi từng trên lại nhỏ đi một tí nữa, rồi cứ như vậy mà lên đến ngọn tháp thì tượng Phật nhỏ xíu lại. Cụ vương Hồng Sển viết: ''cái tháp hiện nay là đồ ngoạn hảo của nhà ông Đỗ Đình Thuật ''.
Tháp này vẫn để ở phòng ăn ở nhà số 49 Donnart de Lagrée Hà Nội. Về sau này là phố Hàm Long và cũng là chỗ cụ Đô hay ngồi uống nước chè Tầu Ô Long. Đến sau vào khoảng trước năm 1937, tháp này được mang về La Ngạn, phủ Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định là nhà của cha tôi, con trai thứ ba cụ Đô Thống. Rồi sau chạy loạn thì nay không biết cái tháp ấy ở đâu? Nghe nói tất cả những đồ cổ của cụ Đô, hiện nay chính phủ Nhân Dân Việt Nam đã đặt vào nhà Bảo Tàng ở Hà Nội. Như vậy thì nếu một mai hòa bình trở lại, con cháu cụ Đô có thể lại được nhìn thấy đồ đạc của tổ tiên mình ở tại quê nhà. Chẳng là một sự vui mắt sướng tai hay sao?
![]() |
| TỔNG ĐỐC HANOI ĐỖ ĐÌNH THUẬT |
![]() |
| KHÂM SAI LÊ HOAN (giữa) |
Thêm nữa tôi chưa hề được thấy một cuốn sách nào về loại sử VN, bằng quốc ngữ viết nói đến tên ông nội chúng tôi. Song tôi có xem thấy tên cụ Hoàng Cao Khải, cụ Lê Hoan và một vài nhân vật khác nữa. Người viết nhắc đến tên các cụ có ý chê trách những vị trên là theo Pháp, chống lại những cuộc nổi dậy của những người yêu nước. Sự thực lòng yêu nước thương dân của các vị không phải là không có! Nhưng đứng trước một sự việc đã rồi thì có tha thiết yêu nước thương dân bao nhiêu đi nữa, các cụ cũng chẳng làm gì hơn được. Chẳng nhẽ về phe với những người chống đối, lấy tay không mà chống lại súng đạn mãi hay sao? Anh hùng như cụ Đề Thám (Hoàng Hoa Thám) chiếm cứ cả một vùng rừng núi Bắc Việt mà cũng không thành! Cụ Phan Đình Phùng cũng chống trả hàng bao nhiêu năm trong vùng biên giới Trung Việt Lào cũng không thành! Rồi còn nhiều, còn nhiều lắm, nhưng cũng không thành...
![]() |
| ĐỀ THÁM và con gái HOÀNG thị THẾ |
Phải đợi mãi đến năm 1945 cụ Hồ Chí Minh mới thành công. Sự thành công này cũng do nhiều yếu tố. Trước hết là thời kỳ Thế Chiến thứ 2, hoàn cầu lộn xộn, sau nữa cũng là trào lưu của thời đó, các nước tiểu nhược đều đòi độc lập...và cũng do bao nhiêu công phu huyết hãn của nhân dân VN. Cố nhiên thiên hạ nhìn qua thì bảo các cụ, như cụ Hoàng Cao Khải, cụ Lê Hoan không có công trạng gì mà còn đáng chê trách nữa! Nhưng ở trên đời có những cái mà mắt con người không thể trông thấy hết, vậy xin hạ nhời thống trách.
Riêng phần ông nội chúng tôi, tôi nghe cha tôi nói lại rằng: khi cụ lớn lên thì người Pháp đã hoàn toàn làm chủ nước VN. Cụ cố thân sinh ra cụ Đô đã từ chối hết các chức vụ mà người pháp đã dành cho. Cụ giới thiệu người con trai 18 tuổi của cụ cho người pháp, tức là cụ Đô, ông nội chúng tôi. Cụ Đô lớn lên trong bầu không khí mới mẻ như vậy, song trong thâm tâm không thể có sự quên lãng nước nhà. Cụ được chỉ định đi dẹp những đám chống đối, gọi là đi ''thứ'' ở vùng Bắc Ninh Hải Dương. Cụ vẫn khoe là cụ không phải dùng một phát đạn nào...Cụ chỉ khuyên họ và nói cho họ biết là sự thế đã rồi, anh em nên trở về làm ăn, yên vui với đồng ruộng...
Một thời gian không lâu, xứ Bắc Kỳ được yên ổn trở lại, dân chúng khá giả hơn thời kỳ loạn lạc, cụ xin từ chức, trở về với ruộng vườn, con cháu. Ít lâu sau lại có nhóm khác nổi lên. Người Pháp lại muốn mời cụ ra, cha tôi kể lại rằng: lễ Giáng Sinh năm ấy, cha tôi còn nhỏ, được người Pháp tặng cho một món quà Giáng sinh rất đẹp là một chiếc tàu thủy khá lớn, cụ Đô liền nói:''như thế nghĩa là họ lại sắp mời ông ra giúp nó!'' Cụ từ chối vì tuổi cao...thực sự cụ vẫn còn khỏe mạnh lắm, cũng chưa gia lắm! Chỉ tại cụ không muốn làm cái công việc ấy nữa! Vì thế nên về sau, cụ xin tiền hưu bổng họ không chó Mà họ lại tặng cái Bắc Bẩu bội Tinh (Chevalier de la Legion d'honneur, năm 1932). Danh vọng tiền tài cụ cũng đã thừa mà họ đâu có ngu? Họ biết cả! Nhưng họ cũng để cụ yên, vì họ cũng biết kính nể những người như cụ!
Thương thay! Những kẻ sinh bất phùng thần, trong lòng chứa chất biết bao điều nín không được! Giang sơn còn đó, nhưng đâu phải của mình, mà đã sang tay người khác! Một lần vua Bảo Đại ra Hà Nội, các quan văn võ đất Bắc Kỳ đã thiết lễ bái yết ở nhà Khai trí Tiến Đức, ở bờ hồ Hoàn Kiếm. Cụ Đô phủ phục dưới chân nhà vua mà khóc nức nở...Chắc trong lòng cụ bị xúc cảm vì giang sơn gấm vóc như vậy mà dân chúng lầm than dưới quyền đô hộ của ngoại bang! Chẳng phải là:
Vua ra đất Bắc một lần
Bình thân phủ phục mấy lần tung hô
Nghĩ mình võ tướng quyền to
Lệ trào thương cảm cơ đồ sang tay
Quân thần tướng đói bi ai...
![]() |
| ĐỖ ĐÌNH THUẬT cố ngoại và NGUYỄN ĐĂNG TAM ông nội, cạnh nhau (số 3 và 2 hàng nhì từ bên phải) HUẾ 1924 |
NĐL viết thêm:
Sở dĩ sách sử không thấy tên hay nói đến Đô Thống Đỗ Đình Thuật cũng dễ hiểu. Là một quan tướng trọng đại của triều Nguyễn, cụ đã chọn chính nghĩa mình để phục vụ và phò vua và triều đình, như trường hợp của rất nhiều nhân vật khác thời bấy giờ. Thêm vào đó, cụ lại là một nhà đại điền chủ giàu có nhất ở Bắc Kỳ với mấy vạn mẫu ruộng thời Pháp thuộc, theo một tài liệu tôi đã đọc được khi về thăm quê hương.
Định mệnh đã sai bảo cụ cùng con cháu ủng hộ một phe và theo một đường lối hoàn toàn đối ngược với XHCN và Cách Mạng tháng Tám. Rất tiếc cho hậu thế, chính nghĩa và sơ đồ của cụ đã không thành tựu. Hậu quả chúng ta còn đo lường đến ngày nay. Nhưng cụ đã hành động đúng như tinh thần và khí khái của truyền thống gia đình. Con cháu và các thế hệ sau phải lấy làm vinh dự và tự hào trước hành động và công lao của cụ. Tuy nhiên nhìn ngoảnh lại, ta nên tìm hiểu và phân tích lịch sử với con mắt khách quan dựa trên các sự kiện đã thực sự xảy ra.
Tôi xin trích ra một vài đoạn của tờ Hán Nôm đăng tháng 9, 2015 tựa là ''Tuyết thư - Lời tự bạch của Lê Hoan khi bị dèm pha nghi ngờ.'' Bài nhận xét này và ngòi bút của Lê Hoan sau đó sẽ tóm tắt thực trạng của các nhân vật lịch sử VN thời ấy, trong đó cụ Đô Thống Đỗ Đình Thuật, ông cố ngoại của tôi, đóng một vai trò không phải là nhỏ nhen...
''Cuối triều Nguyễn, khi nước Đại Nam phong kiến lạc hậu đối mặt với sức mạnh xâm lấn của Đế quốc Pháp. Triều đình nhà Nguyễn cùng tầng lớp Trí thức tinh hoa cũng đối mặt với những lựa chọn khó khăn, Hòa hay Chiến. Nhận thức của kẻ sĩ cũng phân chia theo nhiều dòng nhiều phái, nhưng chung quy lại vẫn là lòng yêu nước thương dân.
Từ xưa đến nay, đọc sử sách dưới chế độ định hướng của CNXH, học sinh sinh viên học sử chỉ nhai lại những bài yêu nước căm thù giặc, hễ ai đánh Pháp thì yêu nước, ai giúp Pháp (thậm chí Trung Dung) thì cũng là Tay sai, là Việt Gian. Những tên Tay Sai nổi bật được nên tên của dân Sử định hướng như: Tôn Thọ Tường, Hoàng Cao Khải, Lê Hoan...Còn những nhà yêu nước được Sử định hướng khen như: Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn, Ông Ích Khiêm,... dưới thì có Hoàng Hoa Thám,...Nhưng ai có nhận ra Trần Xuân Soạn, Ông Ích Khiêm chính là những kẻ thí quân (phế Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc), thâu tóm quyền lực, trừ khử những thành phần không về phe Chiến (giết trần Tiễn Thành), khai sự gây chiến dẫn đến thảm cảnh của thành Huế năm 1885.
Ngày nay, nhìn lại lịch sử với con mắt khách quan nhân học, với tư tưởng dân chủ hòa đồng, tôn trọng mọi chủ kiến, quyền sống, quyền tự do tư tưởng và ngôn luận. Với những tư liệu còn lại, ta có thể nhìn nhận lại các nhân vật lịch sử mà dòng Sử định hướng kia đã che mắt chúng ta bao năm qua. Ít nhất là về cá nhân mỗi con người, mỗi nhân vật lịch sử. Chúng ta thấy Hoàng Cao khải và Lê Hoan là những người có công bình ổn đất Bắc Kỳ đầy nhiễu nhương cướp bóc, với những chính sách cứng rắn nhưng hiệu quả. Chúng ta thấy Tôn Thất Thuyết là người ngạo mạn độc quyền không có tầm nhìn xa. Những nhân vật khác chúng tôi chưa có gì để nói. Lần về VN vừa qua, được người bạn từng du học ở Pháp đưa cho file ảnh tập tài liệu sưu tầm được, bản chép tay Tuyết thư của Lê Hoan và bản dịch. Tôi xin phép người bạn đó được dùng tư liệu và bản dịch này đăng trên Blog Yêu Hán Nôm để mọi người có thêm tư liệu để nhận định về nhân vật Lê Hoan.
Lê Hoan như chúng ta biết là người theo Pháp dẫn quân đánh dẹp Hoàng Hoa Thám. Từng bị người Pháp nghi ngờ, điều tra vì giúp đảng Cách Mạng. Tuy nhiên, qua những dòng Tuyết thư dưới đây, thì ông là người hoàn toàn trong sạch, vì công mẫn cán. Bức thư chắc chắn được viết khi ông đang bị điều tra, nghi ngờ.''
Tuyết thư Lê Hoan:
...Tiết thứ tư
'' Khi ấy kể từ lúc người con ruột là Cả Trọng bị giết chết, Hoàng Thám ẩn náu tại Lương Sơn là nơi rất hiểm trở binh quyền giao hết cho người con nuôi là Cả Dinh giữ chức Phó Tướng. Người này vô cùng dũng cảm lại am hiểu việc quân. Dựa vào thế đất hiểm này thì có thể dùng kế mà thắng chứ không thể lấy sức thắng được. Lúc ấy trinh thám cho biết Hoàng Thám muốn cử Cả Dinh đi tìm Nguyễn Kiêm để họp mặt tại núi Ba Vì để gây danh tiếng dụ dỗ tù trưởng trợ giúp lương thực. tôi một mặt chia quân đánh du kích, cắt lối phòng thủ hiểm yếu, một mặt phái tàu tuần tiễu trên sông Thao, một mặt truyền thư dụ hàng, một mặt thực thi kế phản gián khiến Thám ngờ Dinh, khiến Dinh rời xa Thám. Tính toán ổn thỏa, bèn giao cho Tổng Đốc Trần Đình Lượng, Đô thống Đỗ Đình Thuật dẫn 300 quân thẳng tới Lương Sơn, giả dụ hàng mà vây chặt...
Tiết thứ năm
Dò xét được Hoàng Thám ở Tam Đảo hy vọng khôi phục cơ đồ, có tìm đến địa hạt của Lương Tam Kỳ mua đạn. Tôi một mặt điện báo trình với Thống sứ và báo với các tỉnh Thượng du, một mặt giao cho Tổng đốc Trần Đình Lượng, Đô thống Đỗ Đình Thuật cùng quan tư dẫn quân truy đuổi khắp núi rừng thăm thẳm, không biết Hoàng Thám trốn nơi nào.
...Trong vòng một tháng, Tổng đốc Trần Đình Lượng dẫn quân truy tìm Hoàng Thám, trải qua năm phủ huyện là Đại Từ, Phú Lương, Đồng Hỷ, Võ Nha, Phú Bình. Không một ngày dừng nghỉ, quân giặc chạy tời đâu, quan quân truy tới đó. Hoàng Thám không thể chạy xa, cùng đường tính quay về chốn cũ. Trinh thám biết được Hoàng Thám đã lén về lại miền Yên Thế. Đô thống Đỗ Đình Thuật, Giám binh Binetki đem quân truy đuổi, đến Na Lương gặp viên Đại Lý Nhã Nam là Bouchet, cho rằng Hoàng Thám không dám quay trở lại vùng Yên Thế. Một mặt (viên này) gửi điện trình với quý Thống sứ, mặt khác ngăn trở quân truy đuổi, không cho vào địa phận [Nhã Nam]. Đô thống Đỗ Đình Thuật cùng Giám binh Binetki dẫn quân quay về trình báo... Tổng đốc Trần Đình Lượng tư truyền cho các đạo quân binh rút hết về Yên Thế...
(Bản dịch Tuyết thư của Việt Anh-Cao)
Một trận đụng độ lớn cuối cùng xảy ra ngày 5/10/1909 tại núi Lang, gần Tam Đảo. Ngày 30/11, bà Ba Nho, bà vợ thứ ba của Đề Thám cùng con là cô Hoàng Thị Thế bị bắt (cô này khi lớn lên sẽ có một cuộc sống thăng trầm và tình cờ lại có sự gặp gỡ ngẫu nhiên với Đô Thống Đỗ Đình Thuật ở phố Hàm Long. NĐL).
Quân Pháp đeo bám Đề Thám hết sức gắt gao nhưng vẫn chưa bắt được 'Hùm Thiêng' Yên Thế. Ông ẩn hiện khắp nơi, Pháp không biết cách nào bắt cho được Đề Thám, liền nhờ đến Lương Tam Kỳ, một dư đảng Trung Hoa. Được Pháp thuyết phục, Lương Tam Kỳ gởi ba 'khách trú' Trung Hoa giả làm người của tướng Liên bên Quảng Tây, đến liên lạc với Đề Thám ở Yên Thế thượng vào ngày 10/1/1913. Tuy cần sự giúp đỡ từ bên ngoài nhưng Đề Thám cũng rất cẩn thận đề phòng, nên mãi đến môt tháng sau, tới ngày 9/2/1913, ba người này mới ra tay, hạ thủ được Đề Thám trong lúc ông đang ngủ...
Trần Gia Thúy, Toronto 2016
Cũng vào năm 1912 một số vị quan miền Bắc trong đó có cụ Đô Thống, đã ký tên trong một bức thư phản đối việc Khâm sứ đại thần Mahé chủ trương khai quật lăng mộ vua Tự Đức để tìm châu báu. Trong quyển Lê Hoan của nhà viết sử ký sự Phan Trân Chúc, in năm 1939, có bản lược dịch sang tiếng Việt bức thư này:
''Các hòa ước Pháp-Nam đều cấm việc phá hủy lăng tẩm của các vua chúa Annam...Nhưng mới đây, đọc báo [Courrier d'Haiphong], chúng tôi rất uất ức về việc ông Mahé, Khâm sứ Trung Kỳ, thấy nói trong lăng vua Tự Đức có chôn của...đã sai đào lăng lên để thu lấy của cải.
...Việc đào bới các lăng tẩm trái với hòa ước. Nó trái cả với luật nước Pháp. Khi đào lăng vua Tự Đức, ông Mahé không những đã đắc tội với pháp luật mà còn gây tiếng xấu cho chính phủ Pháp... Việc này làm dư luận của dân Trung Kỳ rất huyên náo. Không những thế, nếu việc đến tai người ngoại quốc, họ sẽ chê cười chính phủ Pháp. Vậy xin chính phủ trừng trị các Hội viên trong Hội Đồng Phụ chính để yên lòng dân.''
Ký tên,
Khâm Sai Lê Hoan
Đông Các Vũ Quang Nhạ
Tổng Đốc Trần Đình Lượng
Đô Thống Đỗ Đình Thuật
Đô Thống Đỗ Đình Thuật được phong chức Trung Quân Đô Thống, ở ngạch Trật Chánh Nhất phẩm hàng võ theo quan chế triều Nguyễn. Một người con trai cụ Vũ Quang Nhạ và một người con trai cụ Đỗ Đình Thuật thành hôn với hai chị em ruột, ái nữ của cụ Trần Đình Lượng. Ba gia đình vì thế có liên hệ hôn nhân với nhau. Ba vị cựu đồng nghiệp có tinh thần cũng lên tiếng phản đối việc xâm phạm lăng mộ vua Tự Đức. Một phần vì bức thư phản đối do các cụ ký gửi Toàn quyền Đông Dương qua đầu năm 1913, Mahe bị chính phủ Pháp bãi chức Khâm sứ, triệu về nước.
Trong việc Khâm sứ Mahé xâm phạm lăng mộ vua Tự Đức, cho tới nay, vị đại thần được nhắc đến nhiều hơn cả là Công bộ Thượng thư Nguyễn Hữu Bài, người nhất quyết không ký tên vào bản văn cho phép việc khai quật do mahe thảo ra, đưa đến câu 'Đầy vua không Khả, đào mả không Bài' được truyền dụng trong dân gian. (5 năm trước đó, 1907, Thượng thư Ngô Đình Khả, thân phụ của Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm, cũng đã từ khước không ký tên vào tờ biểu đưa tới việc truất phế và lưu đầy vua Thành Thái).
Nhưng dù các Thượng thư Ngô Đình Khả, Nguyễn Hữu Bài có phản đối, việc truất ngôi và đào bới lăng mộ vẫn tiến hành. Bức thư của các cụ Vũ Quang Nhạ, Trần Đình Lượng, Đỗ Đình Thuật (cùng ký với Khâm sai Lê Hoan) góp phần đưa đến một sự việc cụ thể là Mahé mất chức Khâm sứ, bị triệu về Pháp. Thiết nghĩ chuyện ấy cũng đáng được đưa ra ánh sáng...
(Từ Mai Trần Huy Bích, December 5, 2017)
![]() | |
| NGÔ ĐÌNH KHẢ |
![]() | ||||
| NGUYỄN HỮU BÀI |
![]() |
| TRẦN ĐÌNH LƯỢNG, VŨ QUANG NHẠ, HOÀNG TRỌNG PHU |
Gia Thế
Thường thường cứ vào dịp Tết Nguyên Đán, tôi tới nhà của Đỗ Tốn (tên thực là Đỗ Đình Tốn) người anh con bác để mừng tuổi bác gái là bà Hàn thông. Ông Đỗ Đình Thông, con trưởng cụ Đô là trưởng tộc thì đã mất từ khi mới di cư vào Sài Gòn được ít lâu. Nay chỉ còn bác gái tôi, bà này là con gái cụ Trần Đình Lượng, lúc trước cụ làm Tổng Đốc hai tỉnh Nam Định, lãnh chức Như Tây Phó Sứ với cụ Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ...trong cuộc điều đình ký kết với Pháp.
Năm đó, vào khoảng 1970, bác gái tôi đã ngoài 80 tuổi. Trong bầu không khí Tết nhất vui vẻ, chúng tôi nói chuyên đến Lăng Ông, đền thờ Đức tả Quân Lê Văn Duyệt ở Gia Định, năm nay đông người đi lễ. Đêm giao thừa đặc nghẹt cả người. Cây cỏ chung quanh bị vặt trụi vì những người đi hái lộc. Vui miệng bác tôi nói rằng: '' Ở lăng Ông làm gì còn có hài cốt cụ Lê Văn Duyệt! Những mộ đó là mộ giả cả!''
Tôi nhân cơ hội, chụp ngay lấy câu đó và hỏi bác, tại sao bác biết như vậy? Bà ta trả lời; '' các cụ thân sinh ra bác nói là ông Lê Văn Khôi nổi loạn...triều đình toan khai quật mộ cụ Lê Văn Duyệt để làm tội thì một bọn người môn hạ, thủ túc của cụ đã đào trộm lấy hài cốt cụ bỏ vào tay nải, người thì mang cái đầu, người thì mang vài ống xương, người thì mang những mảnh vụn vặn, mỗi người vác lên vai một mớ như vậy mà đi bộ mấy tháng trời ra Bắc... Sau ra tới nơi thì ráp lại và chôn ở làng Tám gần vườn Bách Thảo Hà Nội. cũng có dựng một phiến đá để làm mộ chí, song không dám thuê người thợ đục không được rõ không được đẹp! Làm sơ sài qua quít thôi! Sau này sự việc bị lộ nên tất cả bọn người ấy sợ, phải chạy vào nhà sứ đạo mà xin với Đức Cha người Pháp che chở cho. Mấy người ấy sau này trở lại đạo Công Giáo mà một người trong bọn đó là người họ Đỗ!''
Cứ theo như nhời cha tôi kể lại: ông nội tôi người làng Chân Cầm, nay là phố Nhà Thờ Lớn ở Hà Nội. Nên ở trên cổng nhà 49 Hàm Long, trong những đám sương rồng mọc ở trên cổng, tôi nhìn thấy tấm biển đen đề hai chữ Chân Sơn. Tổ tiên người Thanh Hóa, phủ Hoàng Hóa làng Đạt Tài đi theo chúa Nguyễn đánh giặc...(Đất Thanh Hóa, Nghệ An sơn linh dục tú, đã là nơi phát tường nhiều giòng họ hiển hách. Trước hết là vua Lê Lợi ở Lam Sơn, sau đến giòng chúa Nguyễn, rồi sau đến những nhà ái quốc như cụ Phan Bội Châu và cụ Hồ Chí Minh nữa!
Trong nguyệt san Trái Tim Đức Mẹ số 50 tháng 2, 1982 có viết về tông tích cụ Hồ Chí Minh. Cụ Hồ là con ngoại tình của bà Phó Bảng Nguyễn Linh Huy với cụ Cử Võ Liệt Hồ Sĩ Tảo, người làng Võ Liệt, do ông Cao Thế Dũng, di cư tại Hoa Kỳ viết, nói chuyện ông xuống Cao Lãnh tăm một cụ già họ Huỳnh, gọi là cụ Ba, vốn giòng họ Cao Xuân, phát xuất từ Bắc Hà, lưu lạc vào Nam. Cụ Ba vẫn giấu kín tông tích ông Hồ, qua đời tại Cao Lãnh.
Cụ Huy là một nhà ái quốc sống lưu lạc tại Sài Gòn, cụ hay ngồi bán thuốc, bốc thuốc ở chợ Bến Thành, là bạn thân của cụ Phan Chu Trinh. Cụ biết chuyện ngoại tình của vợ nên lúc sinh ra cụ Hồ, cụ Phó Bảng Huy đặt tên ông Hồ là Nguyễn sinh Cung, sau cụ đổi là Nguyễn Tất Thành. Năm 1940 gì đó, cậu Thành tức là Nguyễn ái Quốc, tức Lý Thụy, lập nhiều chiến khu, đổi tên thành HCM, các ông bà già vùng Võ Liệt, Kim Liễu đều biết chuyện gian díu giữa ông Cử Võ Liệt và bà Phó Bảng Huy và chắc cụ Hồ cũng biết, nên mới đổi tên của mình theo họ Hồ. Việc này cụ Kép Tân, người Võ Liệt sống ở trại dinh điền Đức Lập vùng Bù Đăng biết rất rõ.
Đến đời cụ Bút là ông tổ thứ 7 (kể đến đời cha tôi) thì ra Bắc, buôn bút ở làng Chân Cầm Hà Nội, nên gọi như vậy chứ cũng không ai biết tên gì? Cụ thân sinh ra cụ Đô tên Văn, nên khi các cụ đánh tổ tôm gọi những quân bài hàng văn là vơn; tam vơn, nhị vơn, chứ không dám nói là tam văn, nhị văn. Cụ sinh được hai người con trai, người anh là Thiệu, người em là Thuật (theo chuyện Tam Quốc Chí có Viên Thiệu Viên Thuật là hai anh em) thì vợ chết. Cụ Đô mồ côi mẹ từ lúc 2, 3 tuổi. Người anh là Thiệu cũng chết sớm. Cụ cố Văn tục huyền có thêm được hai người con nữa: người con trai là ông Trẻ Khoa, gọi là cụ Phán Khoa, bà con gái tên Hiền, nên chúng tôi gọi là bà Trẻ Hiền.
Cụ cố Văn là một tay hào hiệp, chơi đàn, thổi sáo, đánh võ, đấu kiếm, toàn giao du với những tay anh hùng tứ chiến. Thường hay họp nhau ăn uống. Cụ bà kế mẫu cụ Đô phải bắt gà, làm cơm đãi khách rất là khó nhóc Ăn uống xong thì rủ nhau đi đâu không ai biết. Nên biết rằng thời đó là thời kỳ nước VN đang có chuyện... Đến sau xứ Bắc kỳ bị chiếm cứ lần thứ nhất thì cụ cố Văn có làm tri phủ Hoài Đức Hà Đông một thời gian ngắn. Mắt tôi thấy ảnh cụ cố Văn, một người còn trẻ, không già lắm, búi tóc, chít khăn theo lối các cụ xưa, ngồi bên một chiếc bàn tròn, phủ khăn thêu...Trên bàn có một bình bông giả, hoa giấy với một ống điếu khảm có cái xe điếu cong cong...trên vách tường có treo trương (?) thêu. Như vậy có thể đoán là nhà giầu. Cụ có để lại mấy lớp nhà ở phố cho thuê, sau ông Phán Khoa ăn chơi nên bán đi hết. Nghe nói như vậy! Cha tôi kể rằng: một đêm kẻ trộm vào nhà, cụ còn thức, cụ đem đàn sáo ra chơi, kẻ trộm tự ý rút lui.
Cụ Đô lớn lên được cha giới thiệu với người Pháp làm chức lieutenant, quan một quan hai, coi một số quân, trong đó có một số người của cha mình giao lại. Sau xin cải sang ngạch Nam Triều, vì cụ không thích giữ ngạch Pháp, nên được giữ chức Đề Đốc tỉnh Bắc Ninh. Đồng thời với cụ Lê Hoan làm Tổng Đốc, cụ Nguyễn Tiến (ông ngoại tôi) làm Án sát, sau làm Tuần Phủ Tuyên quang, Phúc Yên. Các cụ chơi thân thiết với nhau và gả con cho nhau. Trưởng nữ cụ Tuần Tiến lấy trưởng nam cụ Lê Hoan là ông Phủ Lê Tụng. Con gái út cụ Tuần Tiến lấy thứ nam cụ Đô Thống là ông thân sinh ra tôi. Trưởng nữ cụ Lê Hoan, tên là Võ Thị Cúc lấy kế cụ Trần Đình Lượng sinh ra ông Trần Đình Trọng. Ông này sau lấy cô ruột tôi là con gái cụ Đô Thống Thuật!
Một thời gian sau khi nền cai trị của Pháp đã vững, các cụ rút lui về vườn. Ông nội tôi được chính phủ Nam Triều, thời kỳ Thành Thái Duy Tân phong chức Ngũ Quân Đô Thống. Chức vụ này lớn lắm! Cả nước VN lúc bấy giờ chỉ có hai ông Đô Thống thôi! Mà ông ở Huế thì tôi không biết rõ thế nào? Chứ ông tôi thì đề rõ ràng như sau: '' Ngũ Quân Đô Thống Phủ Đô Thống Trưởng Phủ Sự. Tôi được thấy tận mắt những hòm sắc của nhà vua phong chức cho ông tôi và cả mũ áo nữa. Những món này thường thấy ở trong phòng dùng làm bàn giấy của ông tôi. Cái mũ võ quan không có 2 cánh chuồn như các mũ của các vị quan văn. Cái áo gấm màu cổ đồng, cái mầu xám, thêu rồng đằng trước ngực. Hai ba hộp bằng gỗ dài, có nắp chụp ra ngoài, bên ngoài sơn son thiếp vàng, bên trong sơn đỏ, đựng những cuộn giấy mẫu vàng, mở ra coi những bức tranh trục của Tàu. Trong đó viết những chữ nho khá to, nét chữ rất ngay ngắn. Đọc sơ qua thì thấy mấy chữ như sau: thừa thiên hưng vận Hoàng Đế chế viết v.v...
Nhưng đến nay nghĩ lại lại mà buồn! Hưng vận cái nỗi gì? Trong khi cả giang sơn gấm vóc đều bị dưới ách thống trị của ngoại bang Tây Phương...mỗi ngày cái giây oan nghiệt càng thắt chặt lại thêm. Vua Hàm Nghi (Ưng Lịch) bị đầy ở Algérie, cha con vua Thành Thái, vua Duy Tân bị đầy sang đảo Réunion. Về sau năm 1929-1933 ông Nguyễn Đăng Hoằng chồng tôi làm việc tại Algérie có vào gặp vua Hàm Nghi ở Villa Gia Long ở Alger. Nhà vua vẫn có búi tóc, vẫn mặc áo bà ba, cài nút bên tay mặt, vẫn có hai người lính VN hầu hạ, song vợ đầm, có 2 con gái và một ông hoàng. Một người tên Như Mai, đỗ kỹ sư agronome, thi ra đậu số mộ (lauréate). Một người tên Như Lý lấy ông comte de la Besse.
Ông con trai tên là Minh Đức, hiện nay còn sống ở Paris, trước là học trò trường võ bị St Cyr. Ông Trần Đình Trọng vẫn thường qua lại vui chơi ăn uống. Ông hoàng này cũng lấy vợ đầm, nhưng không có con. Bà cụ Hàm Nghi, đã ngoài 90 tuổi (1979), mấy năm trước đây còn sống ở Dordogne, Pháp. Ông Hai Trọng có xuống thăm không biết đến nay bà đã theo chồng về thế giối khác chưa? chỉ biết là sau Thế Chiến thứ 2 thì vua mất tại Pháp và chôn ở Dordogne.
Ông Hoàng Minh Đức có gửi tặng tôi (qua ông Trần Đình Trọng) một tập sách bút tích của vua Hàm Nghi viết những bản chữ nho; hành trình đi Pháp của Lê Văn Báo, trên giấy bản. Ngài lấy biệt hiệu tử Xuân và một bức ảnh bán thân vua Hàm Nghi, cũng thấy có chữ Tử Xuân ở bên dưới. nghe nói vua Hàm Nghi rất sở trường về họa! Hiện nay bức ảnh này tôi còn giữ, khi chạy sang đây năm 1975. Còn tập sách khi tôi qua Mỹ đã để lại VN và dặn nên đưa vào thư viện. Không biết có ai làm giùm tôi việc này không?
NĐL viết thêm:
Sau đây là vài đoạn thơ tiêu biểu của nữ thi hào Judith Gauthier (1845-1917) con gái của thi sĩ Théophile Gauthier, muốn nói lên mối tình âm thầm của bà và sự tràn quý với nhà ái quốc, nghệ sĩ lưu đầy Hàm Nghi, biệt hiệu Tử Xuân.
Parler de désespoir à vous, quelle ironie!
Rien ne peut attendrir un coeur si bien fermé.
Cependant des douleurs, longue est la litanie
Et la pire, c'est bien de n'être pas aimé.
N'écoutez pas une ennemie à vos genoux,
Au moins laissez la vivre et vengez vous sur elle,
Meurtrissez-la, tout sera bon venant de vous!
Nỗi đau với Ngài, trớ trêu thay!
Tim chàng đóng khít khó lung lay.
Gian khổ trường kỳ đành gánh chịu
Lòng ái bạc mệnh mối tình bay.
Đừng chấp kẻ nghịch chân hạ xuống
Hận thù mỹ nhân chịu đắng cay.
Hành hình rồi để cho nàng sống
Đầy đọa Trẫm cứ việc ra tay.
Fils du Printemps! hélas! tes fleurs à peine écloses,
S'effeuillèrent au vent d'un orage brutal,
Qui brisa d'un seul coup, les espoirs et les roses,
Fis crouler les palais de laque et de santal.
Ton pays déchiré, ta race désunie
Le matin de ta vie éclaboussé de sang;
A tes pieds, le Dragon tordant son agonie:
Hélas! ce fut ton sort, Royal adolescent!
Mais tu seras grandi par la douleur féconde,
Le barbare attentat, l'infâme trahison,
T'ont fait perdre un Royaume: ils te donnent le Monde.
En ouvrant devant toi tout l'immense horizon...
Tử Xuân ơi! muôn hoa chợp đua nở
Phất phới trước phong bão rào rạt thổi
Tan tác niềm vọng hồng hoa tươi
Đàn hương sơn mài cung đổ vỡ.
Quê hương tan nát, giống nòi anh tả tơi
Bình minh sương máu vấy một đời
Rồng vất vưởng dưới ngôi vàng hấp hối
Ôi! vương quyền thiếu niên mệnh lên ngôi.
Trững trạc anh trưởng thành trong gian khổ
Kẻ xâm lăng, khốn cùng tên phản nội
Cướp giang sơn, vương triều đành bỏ rơi
Nhưng trước mắt hướng đến anh
Một thế giới vô biên, bát ngát một chân trời...
Judith Gauthier, Les Portes Rouges
NĐL tạm dịch, Cánh Cửa Sơn Đỏ
Bà nội tôi tên Vũ thị Ân, người phố hàng tre (rue des bambous), Hà Nội. Gia đình buôn bán, có hai chị em gái. Ông anh hình như chết không có con trai. Bà chị lấy ông Huyện Kim Sơn phát Diệm. khi tôi lớn lên, có trí khôn thì tôi chỉ thấy bà tôi xuống Kim Sơn thăm chị và các cháu, chứ cụ Huyện Kim Sơn đã chết rồi. Người anh ruột bà tôi chết hồi nào tôi không được rõ. Song ông này có hai cô con gái tên là bác hai Đồng, bác hai Tý, tên chồng người chị là Luyện làm nghề khảm xa cừ. Ông này là một kỹ thuật gia, khảm tủ chè, tủ để đồ cổ, sập gụ, bàn ghế, thứ gì cũng rất khéo, đã có bầy đồ ở Hội Chợ đấu xảo nhiều lần. Đồ của bác làm rất là đẹp! Những cành lá, hoa lan, nho sóc, tỉa rất tinh vi. Những cái vòi của cây nho nhỏ như sợi chỉ mà làm bằng ốc xa cừ, gắn trên tủ gụ...làm được như vậy thực là khó!
Tôi đã trông thấy nhiều món đồ thủa xưa họ làm rất là thô, lại dùng những mảnh ốc xa cừ không có nhiều mầu sắc như đồ của bác hai Luyện của tôi làm. Những hoa lá đã được tiến bộ hóa rất nhiều, nên tôi rất mến phục tài năng kĩ xảo của bác tôi về cái nghề ấy. Còn chồng của bà em, tên là Hiên nên gọi là bác Hai Hiên. Ông này nối nghiệp buôn bè, hay đi Thanh Hóa mua gỗ sui(?) về bán. Ông ấy rất vui tính, hay uống rượu. Nhiều lần đi Thanh Hóa mua bè, ghé thăm cha tôi ở ấp La Ngạn..Đến nay không biết bà con lưu lạc ở đâu? Nghe nói con bác hai Luyện, anh Học, anh Thực, con cháu có người di cư qua Pháp.
Ông bà nội tôi sinh ra sáu người con, bốn trai, hai gái và thêm một người con trai nữa là con riêng của ông tôi, lỡ sinh ra trong cuộc đi thứ vùng Bắc Ninh. Năm ông sau này đều là đại điền chủ. Trước hết là bác cả Thông thường gọi là ông Hàn Thông, vì tập ấm nên được chức Hàn Lâm Cung Phụng hay Hàn Lâm Đãi Chiếu của triều đình Huế ban cho, lấy thứ nữ cụ Tổng Đốc Trần Đình Lượng là chị khác mẹ với ông Trần Đình Trọng.
Bác Hai tôi tên Tiến, vì đỗ Thú Y ở Đại Học HN nên gọi là ông Đốc Tiến, lấy con gái cụ Lý Cậu, làng Chân Cầm, người phố Nhà Thờ HN. Người thứ ba (cha tôi) tên Tuần, sau vì trùng tên với một vị quan đồng liêu của ông nội tôi, nên đổi lại là Ruật, theo Tây học từ thủa nhỏ, là người Bắc Kỳ đầu tiên học ở lycée Albert Sarrault HN, lấy mẹ tôi là con gái út của cụ Tuần Nguyễn Tiến người làng Mọc Quan Nhân, Hà Đông.
Cha tôi không có chức vị gì trong xã hội, thi tú tài Tây, song chưa thành Tú Tài hẳn! Tuy học chữ Pháp từ nhỏ, song cũng có học Hán Văn lúc đã có chúng tôi rồi. Ông thầy dậy Hán Văn ở La Ngạn của cha tôi, tôi còn nhớ tên là cụ Tú Thực, nên ngoài văn hóa Pháp ra, cha tôi cũng biết những bài cổ va7n như bài Chính Khí Ca của Văn Thiên Tường, bài Đằng Vương Các Tự của Đường Vương Bột và cha tôi cũng thuộc lòng nhiều bài thơ Đường. Ông rất giỏi toán vì lúc nhỏ học trường thầy dòng Puginier HN. Mãi sau mới vào học ở lycée Albert Sarrault!
Người thứ tư của cụ Đô tên Đạt, chú Tư Đạt. Tên ông Tư Đạt một thời được giới thanh niên giang hồ biết tiếng, vì chú tôi giỏi võ Tàu. Tôi còn nhớ những đêm hè ở nhà 49 Hàm Long, chú tôi tập đánh võ với một ông thầy Tầu. Thầy này ngụ ở ngõ Sầm Công hay ngõ gạch, gần phố hàng Buồm gì đó...chú tôi học đã tinh luyện, có thể cầm một cái ghế đấu mà địch lại cả trăm người! Chú tôi lấy vợ tên Trinh, con cụ Tham Khiêm làm ở nhà Đoan (douane) HN. Trong phòng chú tôi, khi chưa có vợ, ở từng dưới nhà 49 Hàm Long treo toàn các đồ võ khí như: gươm, gia1o, mâu thuẫn, búa rìu, mã tấu, dao kiếm đủ thứ... Lại treo nhiều đồ nhạc khí như đàn Tỳ Bà, đàn Tam, đàn Nguyệt, sáo, nhiều thứ sáo: tiêu, địch, cái ngắn, cái dài, cái thổi ngang, cái thổi dọc, rồi thanh la, phèng phèng, mõ Tầu, nhi vv...
Mỗi khi họp bạn dười từng hầm thì uống nước chè Tầu, ăn mứt sen mứt bí, bánh trái đủ thứ và đàn địch ca hát rối rít. Chú tôi chơi đàn sáo, nhị rất giỏi, thứ gì cũng đi đến chỗ tuyệt kỉ cả rồi. Lại có cả đàn Tam Thập Lục huyền, đánh nhiều bài Tầu rất hay, như bài: Vương Cô Nương Toán Mệnh, bài Tây Bì, tiếng Tầu gọi là sây phầy. Các bài Việt thì như điệu Nam Ái, Nam Bằng...Cha tôi dược cái có giọng tốt, hát tuồng cổ, hát khách vv...Trong bọn đó có ông Khái Hưng Trần Khánh Dư, con cụ Tuần Trần Mỹ, có ông Nghiêm Xuân Miễn con cụ Tổng Đốc Nghiêm Xuân Quảng, có ông Huynh Lệ, con cụ Tổng Đốc trần Văn Thu và là anh ruột ông Trần Văn Bính, đánh tennis, làm Thủ Hiến Bắc Việt một thời. Có ông Hai Phúc là cậu ruột tôi, con trai thứ cụ Tuần Nguyễn Tiến vv...Ông cậu tôi là một tay tài tử về ngón nhị. Ông kéo nhị được nổi tiếng một thời, nhiều người ca tụng và biết tiếng ngón nhị của ông Hai Phúc.
Hai cô tôi, cô chị tên Quýnh lấy ông Trần Đình Trọng, con trai của cụ Trần Đình Lượng, gọi là ông Hai Trọng, hiện hôm nay còn sống ở Vincennes, Paris Pháp, nay đã hơn 80 tuổi. Cô út tên phùng lấy ông Vũ Quý Mão, con út cụ Tuần Vũ cẩn, làm Đổng Lý Văn phòng phủ Thủ Hiến Bắc Việt dưới thời ông Nguyễn Hữu trí. Chú Mão con nhà danh gia, nho nhã, rất đẹp trai, hiện còn sống ở VN dưới chính thể Cộng sản. Năm nay (1980) 77 tuổi. Ông vừa qua Pháp được vào tháng 9, 1981.
Chú Năm tôi tên Biên, con riêng của ông tôi, song được ông bà tôi nuôi dưỡng, hiện nay 1982 đã ngoài 80 tuổi, sống ở California. Chú 5 tôi rất nhã nhặn khéo léo, không như mấy ông anh, có lẽ vì chú tôi tự biết mình là phận nhỏ mọn một phần, còn một phần nưa có lẽ là do ở truyền thống bên bà sinh mẫu của chú...bà làm kỹ nữ, quê ở huyện Tiên Du, Bắc Ninh. Sau này không biết bà ra sao.
Thực là buồn và súc cảm khi nghĩ đến tình cảnh những người phải sống ở những trường hợp éo le, chắc trong thâm tâm có nhiều đau khổ không nói ra được! Chú tôi sau này cũng oanh liệt lắm. cả vùng Bắc Ninh không ai là không biết tiếng. Chú cũng là một nhà đại điền chủ...gia đình giầu có hạnh phúc lắm! thím năm tôi, người Bắc Ninh, con một vị Chánh Tổng, Bá Hộ gì đó...lúc lấy chú tôi, cưới thím tôi về nhà 49 Hàm Long để lạy bố mẹ chồng.
Thím tôi mặc áo tứ thân, thắt lưng nửa mình, đầu đội nón quoai thao, chân đi dép cong, đeo bộ sà tích. Tôi được nhì thấy rõ ràng, cũng là một cảnh vui tai vui mắt. không như các cô con gái nhà quan, mặc áo gấm, bên ngoài mặc áo thụng vóc đỏ, chân đi hài, đầu chít khăn vành dây v.v...Sau thím tôi sinh hạ 14 người con, 8 cô con gái, 6 ông con trai, mà trong số 8 cô con gái ấy, nhiều cô đẹp lắm! Người đẹp nhất có lẽ là em Bích Nhâm, lấy ôn Nguyễn Hữu Tăng, có cổ phần trong ngân hàng Saigon, hiện di cư sống ở vùng Texas (Bài này viết ngày 19/12/1980)
Ruộng Đất
Có người hỏi tôi tại sao cụ Đô có nhiều ruộng như vậy? Cụ Đô làm gì có nhiều tiền để mua ruộng? Hay là người ta biếu không cho cụ? Người ta thường nói: có chí làm quan, có gan làm giàu. Cụ Đô chẳng phải là người không có chí và không có gan. Cụ làm quan ở tỉnh Bắc Ninh, tiền lương không đủ để hầu tổ tôm mấy ông quan trên và bạn hữu. Nhưng cụ dám tậu ruộng ở Bắc Ninh lúc đầu, hình như Ấp Nội-Viên hay Hộ-Vệ. Vùng này con gái đẹp lắm! Nên thiên hạ có câu: trai cầu Vồng Yên-Thế, gái Nội-Duệ Cầu Lim. Làm trai anh hùng như đất Yên Thế mình có Hoàng Hoa Thám đó!
Sau khi cụ Đề Thám chết rồi, cô Hoàng Thị Thế, con gái của cụ Đề Thám (con bà vợ thứ ba) được người Pháp mang về Pháp cho ăn học, cô có trở về HN, tới thăm cụ Đô và gia đình và xin làm con nuôi cụ. Cụ từ chối, đâu có muốn nhận một cô đầm ở Paris về? Hồi ấy tôi cũng đã 11, 12 tuổi. Tôi thấy cô cũng đẹp, nhưng bận đồ đầm, hoàn toàn Âu hóa.
NĐL viết thêm:
Trong cuốn sách 'Kỷ Niệm Thời Thơ Ấu' viết bằng tiếng Pháp vào năm 1963, cô ta kể lại cuộc sống với bố mẹ ở Yên Thế. Cô cũng diễn tả bối cảnh máu lửa của cuộc khởi nghĩa chống Pháp đô hộ. Thật là một tình trạng oái oăm vì mười mấy năm sau cái chết thê thảm của bố, cô lại đến thăm và muốn làm con nuôi một nhân vật đã từng truy lùng ông thân sinh của cô, và nhân vật ấy chính là... Đỗ Đình Thuật! Thêm nữa, khi từ Pháp về HN vào năm 1925, cô lại ở phố Hàm Long, cùng đường và nơi cụ Đô đang trú ngụ! Việc cô ta không được nhận làm con nuôi cũng có thể được nhìn dưới khía cạnh ý thức hệ ngoài sự chênh lệch bất đồng văn hóa. NĐL
Còn cụ Đô thì cứ lần lần thu hoạch chỗ này, chỗ nọ, vay mượn mà mua ruộng thêm mãi. Nghe nói ở đâu có bán ruộng là cụ rủ các con đi xem ruộng! Việt Nam sống về nông nghiệp, nên ruộng đất là căn bản, kỹ nghệ rất ít, trừ một vài nhà máy, nhà máy sợi, nhà máy tơ ở Nam Định, nhà máy làm xi măng ở Hải Phòng và về sau này thì có nhà máy chai cũng ở Hải Phòng, rồi đến nhà máy làm xà bông, nhà máy dệt chăn, nhà máy làm đường ở trong Nam v,v...Ở vùng Bắc, người dân rất nghèo, thường làm thợ, làm thuê làm mướn. Có tư điền rất ít nên phải làm rẻ cho những nhà giầu có ruộng hoặc chịu đóng tô-thuế (gọi là dịa-tô) mỗi mẫu là bao nhiêu đó, tùy theo ruộng tốt hay xấu...Những người đó gọi là tá điền Khi tôi lớn lên thì tôi thấy ông nội tôi đã có rất nhiều ruộng. từ trên rừng xuống tới biển, chỗ nào cũng có!
Đồn điền, tiếng Pháp gọi là concession, chữ Tầu gọi là nhượng địa. Ví dụ như ở Thượng Hải có concession của người Anh, người Pháp, người Đức etc...Cũng có khi gọi là Tô-giới. Còn ở VN, những concession lại gọi là đồn điền như đồn điền De Montpesat ở gần Chi Nê (giải núi đầu của Ngũ Hành Sơn). Đồn điền cụ Đề Kiều, về sau gọi là Đồn Điền Tam Lộng ở tỉnh Vĩnh Yên, gần núi Tam Đảo. Đồn điền Đa Phúc thuộc Phủ Đa Phúc tỉnh Thái Nguyên. Đồn Điền Mã Hùm ở Thanh Hóa của cụ Bá Soạn mua chung với cụ Đô Thống etc...
Cha tôi có vào ở Đồn Điền Mả Hùm một thời gian vào khoảng năm 1917, vì sau này tôi có tìm thấy những bức thư của cha tôi viết về HN cho ông tôi, viết để trong một cái lọ cổ trong một buồng nhỏ ở nhà 49 Hàm Long. Tôi dở ra đọc thì thấy để năm 1917. trong thơ nói chuyện về sự thu hoạch ở Đồn Điền và tỏ ý nhớ nhà...bị ốm sốt rét, hồi đó tôi đã 4 tuổi, ở lại HN sống với ông bà, mẹ tôi và 2 em tôi. Vợ dại con thơ, đang ở nơi phồn hoa đô thị như HN mà phải vào sống ở Đồn Điền Mả-Hùm ơ Thanh Hóa thì cũng buồn thật! Nguyên nghe đến cái tên Mả-Hùm cũng đã đáng sợ rồi!
Tôi còn nhớ rõ ràng vào năm tôi 9, 10 tuổi, mắt tôi được nhìn thấy cha tôi và bác Đốc Tiến tôi, khệ nệ khiêng ra cổng nhà 49 Hàm Long một tay nãi bự bạc đồng (có bà đầm ngồi) để đem đi trả nợ. Cụ nợ nhiều lắm! Mỗi lần mua một sở ruộng nào thì phải bán hết thóc lúa trong kho ở các nơi, còn thiếu thì đi vay. Người cho cụ vay là một người Tầu giầu có ở hàng Bồ hay hàng Buồm tên là Vương Vĩnh Tuy. Mãi đến khi tôi đã lớn 15, 16 tuổi thì nghe chùng mới hết nợ. Những ruộng cụ mua phần nhiều là ruộng bỏ hoang phế, nên mua rẻ mạt.
Khi đã về tay cụ rồi thì cụ tổ chức đem dân nghèo ở vùng đông dân cư như Nam định, Thái Bình đến chỗ ruộng mới lập thành ấp trại, khai phá ruộng hoang. Đặt một người trong nom gọi là Quản Ấp. Trong ấp cũng tổ chức những người canh gác ruộng nương ấp trại gọi là Tuần. Trên bọn người Tuần có một vị Trưởng Tuần. Bỏ tiền ra cho họ mua trâu bò, làm nhà cửa, cấp cho họ lúa thóc để làm giống và họ sống đến vụ gặt lúa. Dĩ nhiên là cũng có lấy lời chút đỉnh, không lấy nặng lãi như người khác. Có như vậy thì dân nghèo mới được nhờ, mới có phương tiện làm ăn sinh sống. Còn lấy nặng lãi như người ta thì làm sao dân ngóc đầu lên được? Chẳng bao lâu họ trở nên khá giả, có người có nhà ngói, sân gạch, họ biết ơn cụ lắm, mà cụ cũng lấy làm vui vẻ, sung sướng thấy dân làm ăn mỗi ngày mỗi tấn phát.
Cụ vui mừng mỗi khi về tận nơi thăm ấp trại và các tá điền của cụ. Nhiều nơi họ kính nể cụ, coi cụ như một vị thần! Về sau này đến đời chúng tôi, mỗi trại, mỗi ấp đều có lập miếu thờ các vị chủ điền quá cố (cha tôi mất vào 13 tháng 12 1942 thọ 49 tuổi. Cụ Đô mất vào 18 tháng 3 âm lịch 1945, thọ 82 tuổi, sau cuộc Nhật đảo chính 1945). Sở dĩ như vậy một phần cũng do thời thế (sau Thế Chiến I) nghề làm ruộng phát triển mạnh. Một khi ruộng hoang trở thành thục điền thì giá trị lắm! Một phần cũng do Trời làm...như vụ lụt lớn ở Bắc kỳ năm nào làm vỡ đê nhiều nơi, đập Cầu Phùng ở Sơn tây bị vỡ đất phù sa sông Hồng tràn về vùng Hà Nam Phủ Lý nên các sở ruộng ông cụ mua về vùng này đều trở nên mầu mỡ bội phần. Ruộng đang là ruộng năn lát mọc trở nên ruộng cấy lúa, rồi lại được phù sa đưa tới làm thành những thửa ruộng phì nhiêu.
Cái đó quả là có Trời giúp, chứ sức người thì làm sao có như vậy được? Nghe nói ở đâu có ruộng bán là cụ rủ ông Ba (cha tôi), ông Năm đi, vì bác Hàn Thông tôi đã có đồn điền Đa Phúc ở Thái Nguyên, Bác Đốc Tiến tôi (con thứ hai, sinh ra anh Đỗ Đình Đạo) có đồn điền Tam Lộng ở Vĩnh Yên (gần núi Tam đảo, chỗ người Pháp lên nghỉ mát) rồi! Cha tôi, ông Ba La Ngạn có những ruộng thuộc vùng đồng bằng Hà Nam, Nam Định, Thái Bình. Chú Tư Đạt tôi có đồn điền Lạch Tray, tren con đường đi từ Hải Phòng ra Đồ Sơn và các ấp ở vùng Hải dương. Gia đình cha tôi chỉ có Đồn Điền Hưng Thịnh thuộc huyện Tiền Hải, Thái Bình (mới mua vào năm 1935) là concession thôi! Còn đều là ấp trại cũ, song ruộng vùng đồng bằng đắt gấp 5, gấp 10 lần ruộng vùng thượng du!
Đồn Điền Tam Lộng và Đỗ Đình Đạo
Bác Cả, Bác Hai tôi, mỗi người một cái đồn điền mấy vạn mẫu, lại còn có thêm những ấp, trại nhỏ lặt vặt ở vùng Bắc Giang, Bắc Ninh... Mỗi cái đồn điền có mấy chục ấp nhỏ, mỗi ấp cho một người trông coi gọi là quản ấp...có sông, có núi, có rừng là của tư hữu. Vì giầu nên mua vàng cất giữ hoặc kinh dinh những việc khác như mở lò bát làm đồ sứ, mở lò nấu đường mía, còn thừa thời gian thì đi săn bắn, nên ai cũng cỡi ngựa, bắn súng giỏi! Như bác Đốc Tiến tôi có nhiều vàng nên mới mua súng đạn của Nhật lúc Nhật đầu hàng Đồng Minh vào cuối năm 1945. Rồi bị đảng VNQDĐ của ông Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh) và ông Vũ Hồng Khanh mua huộc. Sau khi họ đã cho vào xiếc của họ rồi thì anh Đạo tôi trở nên Tổng Tư Lệnh QĐ của VNQDĐ. Bởi trong thâm tâm bác Đốc Tiến tôi muốn làm Hoàng Đế! Đối với gia đình, ông bị chê là người tranh gia tài với các em. Đối với việc nước, ông có tham vọng muốn lên ngôi Hoàng Đế. Nếu mà QDĐ thắng Việt Minh thì ông có thể lên ngôi vua thật!
Ông Đốc Tiến rất tin địa lý, ông có nuôi một ông thầy địa lý người Nghệ An tên là Cần, sống luôn luôn trong đồn điền bên cạnh ông để nghiên cứu về các mạch đất ở vùng Vĩnh Yên, Tam Đảo. Ông cũng đọc nhiều sách chữ Hán về địa lý và được ông thầy Cần chỉ dẫn nên thường hay đi tìm đất để để mộ, để cất nhà cho chính gia đình mình và cho cả những ai muốn nhờ đến tài năng địa lý của ông. Sau một thời gian tìm kiếm, ông xin với hai cụ Đô, di hết các ngôi mộ tổ về Gò Âu, ở cách Đồn Điền Tam Lộng mấy cây số. Theo như tôi nghe được thì vùng Gò Âu này có những mộ huyệt có thể phát dến Đế Vương và những câu ca trong sách ông xem được có những bài trùng hợp với những đất đai chung quanh vùng đồn điền của ông như sau:
Mạch tự Tam Lộng.....
Bảo giang thiên tử xuất
Bất chiến tự nhiên thành.....
Kim quy xuất hiện
Minh đường ưng điện,
Lưỡng phượng triều nghi
Tổng vạn thiên binh, Anh hùng cái thế.....
Mãi thế gian điền.....
Nơi Tam Lộng khởi nguồn
Đất thiêng Đế Vương xuất hiện
Không đánh cũng lừng danh
Tài võ tướng lộ diện
Vẻ vang lên cung điện
Đầy nghi lễ quan triều
Vạn phú quân binh, mệnh Anh hùng
Thời thế trường cửu... NĐL tạm dịch
Nhưng mộng Đế Vương không thành! Đến sau ông Đốc Tiến bị bắt đem đi biệt tích, sau nghe nói chết vì bịnh sốt rét kiết lỵ ở vùng Bắc Bắc Việt, nơi ông bị giam giữ và không biết chôn ở chỗ nào? Con trai lớn của ông tên Đỗ Đình Đạo, người anh con chú con bác ruột của tôi, chạy lưu vong qua Tầu, sống ở Hồng Kông và Quảng Đông một thời gian. Sau khi người Pháp theo chân người Anh tiếp thu khí giối của Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh ở VN thì người Pháp tìm cách ở lại và đưa vua Bảo Đại về nước. Anh Đạo tôi trở về được cử giữ chức Giám Đốc đoàn quân thứ lưu động để đi dẹp càn quét những vùng còn có Việt Minh sống lén lút. Anh tôi có sức mạnh nên xông pha nơi trận tiến, hòn tên mũi đạn cũng nhiều lần nguy hiểm, vào sinh ra tử là thường...
Mãi đến năm Pháp thua trận Điện Biên Phủ, nước VN bị chia cắt làm đôi, trong lúc ren rối anh tôi đến nhà bà Thụy An Lưu Thị Yến (một người đàn bà nguy hiểm, đã từng viết sách, viết báo, có đầu óc chính trị) thì bị ba ta đầu độc. Anh tôi chết tại nhà bà vào ngày 4 tháng 8, 1954. Tôi có đến tận nơi để nhận xác anh tôi với một vài người trong họ, vì hồi ấy chị Đạo, chị Trung (chị ruột của Đạo) và các con của anh đều đã vào Saigon cả rồi! Thế là hết một trang anh hùng!
Cũng nên biết rằng: hồi đầu năm 1945, sau khi Nhật cướp chính quyền ở Đông Dương được vài tuần thì ông nội tôi chết ở Đồn Điền tam Lộng. Người Nhật cũng biết ông tôi là một nhân vật có tiếng của nước VN, có chức vụ lớn của triều đình VN nên có cử một đội quân vào Đồn Điền để tiễn đưa linh cửu của ông tôi. Sau đó người Nhật đã ra về tay không. Tất cả số vũ khí họ đem theo, họ có nhã ý tặng lại cho gia đình họ Đỗ để bảo vệ Đồn Điền trong thời đại nhiễu nhương đa sự này! Nhân đó bác Đốc Tiến tôi đã đem hết số vàng tích trữ được để mua súng đạn của Nhật để vì đó mà sau này anh Đạo tôi trở nên Tổng Tư Lệnh quân đội VNQDĐ.
Sau khi anh Đạo tôi mất rồi, một bà chị họ của chúng tôi (bà này con bác Cả Thông tôi, cùng chồng con, sau vượt biển định qua Mỹ, bị đắm thuyền mất tích) có đưa cho tôi đọc một tờ báo cũ, tôi chắc là báo 'đàn bà' của bà Thụy An Lưu Thị Yến xuất bản ở Saigon hồi mấy năm về trước. Trong đó có bài thơ, nhan đề là ''Viếng trước anh'' như sau:
Công không thành chí không đạt
Người kia uổng kiếp, hư sinh
Tiêu ma khí phách trong đàn địch
Chôn dấp hiên ngang góc thị thành!
Câu chuyện Nghĩa Yên tàn lửa đóm
Thời cơ đâu có đợi chờ anh
Ngậm ngùi những kẻ nhìn trăng khóc
Uổng một đời trai, rẻ tấm tình
Ô hô! Sự nghiệp! Hờ! Sông núi!
Em gửi lời thơ viếng trước anh.
Câu chuyện Nghĩa Yên, tức là cuộc khởi nghĩa của VNQDĐ mà cũng là cuộc khởi nghĩa của bác Đốc Tiến và anh Đạo tôi ở vùng Vĩnh Yên...Về sau, một lần tôi gặp anh Đạo, anh nói cho tôi nghe rằng; '' Nếu như quân đội của anh cử đi đánh lấy tỉnh Phúc Yên mà không bị nhầm đường, vì đi bằng đường thủy, đến được tỉnh Phúc Yên vào tang tảng sáng, cướp được tỉnh Phú Yên rồi kéo thẳng về Hanoi bằng đường bộ, lấy được thủ đô Hanoi trước quân đội của Viêt Minh vào, thì thế cờ sẽ đổi hẳn! Tiếc rằng lúc ấy nhiều việc quá, anh không thể đích thân dẫn quân đi, anh giao cho một người thủ hạ, không thuộc sông ngòi vùng đó ra sao, đến khi tới Phúc Yên thì đã muộn! Bên kia họ đã cho tăng cường quân số, nên không đánh lấy Phúc Yên được! Thành ra không có đường liền để mà kéo quân về Hanoi, mà ra tay trước họ! ''
Cứ đọc kỹ bài thơ trên thì ta hiểu được phần nào cuộc đời của ông anh họ tôi. Một trang thanh niên dũng mãnh có thừa...bắn súng cưỡi ngựa rất giỏi... thổi saxophone rất hay...chơi cờ tướng rất cao...đã từng chơi thẳng những tay cờ nổi danh trong giới cờ...những nhà quán quân về cờ tướng của miền Nam, miền Bắc. Có lần anh nói với tôi rằng: '' khi lưu vong sang Tầu, anh hết cả tiền để sinh sống, hàng ngày anh đi lang thang trên hè phố ở Quảng Đông, anh ghé lại vỉa hè, có mấy người Tầu bầy thế cờ ở đó, nếu ai phá được nước cờ của họ bầy ra đó thì sẽ được một số tiền nhỏ, anh nhờ thế mà có tiền sống lai rai...'' Thân hình anh vạm vỡ, đẹp trai, tướng mạo hiên ngang, rõ là một trang tu mi nam tử...nhưng phải cái đa tình nhiều cảm, mà thành sự nghiệp tan theo mây khói... Thực quả là đáng tiếc!
NĐL viết thêm...
Đỗ Đình Đạo mất đi gần 65 năm nay nhưng sự kiện và nguyên nhân cái chết của ông vẫn chưa được đưa ra ánh sáng. Trần Gia Phụng vài năm nay đã viết một bài về biến cố này. Giả thuyết đương nhiên là Thụy An đã giết ông Đạo, vì Tình, Tiền hay Chính Trị theo dư luận được phổ biến. Nếu bà đã thực sự đầu độc Đỗ Đình Đạo thì quả thật chính quyền miền Bắc đã đối xử rất tệ với bà, không ghi ơn mà lại truy tố bà là làm gián điệp cho Pháp và cho bà là có hành vi phản quốc...Thật ra Thụy An chỉ là con mồi dụng cụ và một nạn nhân nữa trong chính sách thanh toán phế thải những phần tử đối lập như Đỗ Đình Đạo! NĐL
Người con gái họ Đỗ
Đây không phải là nói đến bà con gái họ Đỗ, lúc chạy loạn gánh một gánh, hai đầu có hai cái thúng, mỗi thúng có một cậu con trai ngồi...mà nhà đạo sĩ Trần Đoàn trông thấy nói với bà con gái họ Đỗ rằng: '' bà gánh hai ông vua thiên tử bà có biết không? '' Sau ông con trai lớn tên là Triệu Khuông dẫn lên ngôi Hoàng Đế nước Tầu, lập ra nhà triệu Tống, còn ông em tức là Triệu Quang Nghĩa, nối ngôi anh tức là vua Tống Thái Tông.
Tôi nói đây là nói về những người con gái họ Đỗ của chúng tôi...Người con gái họ Đỗ đầu tiên mà tôi được biết là bà Trẻ Hiền, em gái cùng cha khác mẹ với cụ Đô, ông nội của tôi. Bà này bị chồng chơi bời, gia đình bên chồng lại khắc nghiệt, nên bà nhờ một vị cố đạo người Pháp (có lẽ là Cố Ân père Dronet thì phải) làm đơn lên Đức Giáo Hoàng xin cho bà được hủy bỏ cuộc hôn nhân. Bà về ở với cụ Đô là anh ruột, sau bà ở với bác Hàn Thông tôi, trông nom các người con của bác tôi. bà rất ngoan đạo, đọc kinh xem lễ và cũng là Hội Trưởng Hội Đức Mẹ Đồng Trinh ở Hanoi. Bà sống yên phận như vậy cho đến chết.
Đến đời con gái cụ Đô, cô lớn lấy ông Trần Đình Trọng, là con gái lớn một vị Đô thống, về làm dâu một vị đại thần Tổng đốc hai tỉnh. bà ống như một bà hoàng trong một dinh thự nguy nga ở làng Luật Trung, phủ Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Ông chồng bà lại theo thời thượng, văn minh, thường giao thiệp với những người Pháp, đặt tiệc thiết đãi quan khách luôn luôn, nên bà cũng tỏ ra con người nhã nhặn lịch thiệp! Trong thời buổi vàng son của gia đình người ta thường gặp hai ông bà ngồi trên một chiếc xe ngựa có chú Sà Ích cầm giây cương, mặc đồ đồng phục, đầu đội mũ lưỡi chai, tay đeo găng trắng, cầm cương qua lại trên đường từ tỉnh lỵ Thái Bình về làng Luật Trung. Như vậy chứng tỏ là gia đình này đã biết ăn chơi theo kiểu Âu Mỹ! Sau gia đình này qua sống tại Paris và bà mất tại đây.
Đến bà em út trong gia đình, bà kết duyên với ông Vũ Quý Mão, con trai út cụ tuần Vũ tuân...một giòng dõi nho gia vọng tộc. Chú Mão sau này có là Đổng lý văn phòng phủ Thủ hiến Bắc Việt dưới quyền ông Nguyễn Hữu Trí. Về già đi dậy học. Cô Út tôi là một người đàn bà rất khiêm tốn. Cô chỉ lo nội trợ, thờ chồng nuôi con. Những thời oanh liệt của chú Mão tôi, cô tôi không bao giờ để tâm đến. Cô không hề theo chồng đi dự tiệc nọ tiệc kia bao giờ! Có lần ở Hanoi, thiên hạ xôn xao đi coi cuộc diễn binh...Trên khán đài danh dự có ông bà Thủ hiến và quan khách, mà cô tôi thì có giấy mời hẳn hoi, song không chịu đi dự...Bà coi sự phú quý như phù vân, không bao giờ bà tỏ ra là một người cao sang, dù chồng bà đang nắm giữ trong tay những quyền hành không phải là nhỏ ở thời đại bấy giờ! Lúc nào bà cũng ngại ngùng e thẹn và tỏ ra là một người đàn bà hiền đức đáng mến phúc!
Đến hàng chúng tôi, tất cả có vào khoảng hơn 20 người, không ai được học hành cao vì hai cụ Đô có quan niệm rằng: người đàn bà con gái phải là người tề gia nội trợ. Nếu có học nhiều, đỗ đạt gì gì đi nữa thì mai sau cũng vẫn phải là người chủ quỹ trong gia đình; không thể coi nhẹ trách nhiệm gia đình để làm những việc khác. Tuy vậy đa số những người con gái họ Đỗ đều có khiếu thông minh...hiểu biết văn thơ, thêu thùa kim chỉ và vẫn giữ cốt cách lễ giáo cổ truyền vì phần nhiều đều có học qua Hán tự, như Minh Đạo Gia Huấn, Minh Tâm Bửu Giám và Đại Học, Luận Ngữ etc...Cũng có người rất giỏi về nghề thêu thùa may vá, như chị Đỗ thị San, thứ nữ bác Hàn thông tôi. Những tác phẩm nghệ thuật của chị, nếu đem so sánh với những tác phẩm của tay thợ lành nghề, chưa chắc đã rõ ai hơn ai kém. Hiện nay chị đang ở Austin Texas. còn những người theo Tây học sau này ngoài bổn phận gia đình cũng sống hiển hách như ai, cũng biết cỡi ngựa, bắn súng, trượt tuyết bơi lội thể thao, lái xe lên đèo xuống dốc, không kém gì những phụ nữ Tây phương Âu Mỹ.
Song người mà tôi muốn đề cao trong mục này là chị Trung, chị tên Đỗ thị Trung, là con gái đầu lòng của bác Đốc Tiến tôi, cũng là chị ruột của anh Đỗ Đình Đạo. Chị lớn hơn tôi 3 tuổi và sau khi ông bà tôi tậu được Đồn Điền Tam Lộng, chị theo cha mẹ về ở Đồn Điền. Ở đấy có sông của nhà, có núi của nhà, có rừng, có suối, ruộng nương cò bay thẳng cánh, thóc lúa đầy kho, thu vào bán ra, chị tôi cũng là một tay giúp việc đắc lực! Cũng nên biết rằng: thóc ở Đồn Điền bán ra, không như ở các ấp trại vùng đồng bằng, bán bằng cái 'phương' gạt thóc hoặc bằng thùng, mà bán ra từng toa xe hỏa. Mỗi lần bán hàng mấy chục toa, nên nhiều tiền lắm!
Lúc đầu cụ Đô Bà giữ chìa khóa két, sau bác Đốc Tiến tôi nói: ''Cụ nên đưa cho bác giữ, vì cụ đã già yếu, sợ xẩy ra chuyện gì chẳng lành''. Đến khi bác đã nắm được chìa khóa rồi, các con, các cháu có lên Đồn Điền hầu thăm hai cụ..., cụ muốn cho con cho cháu ít tiền, vì thấy có đứa nghèo túng (như chú Tư Đạt tôi chẳng hạn, chơi bời, cô đầu, gái đĩ, bán hết cả cơ nghiệp). Nhưng muốn lấy chìa khóa mở két thì bác Đốc Tiến đã đi chơi...hoặc đi thăm các ấp trại trong Đồn Điền, hoặc đi săm bắn, hoặc đi đâu(?) không ai biết thì thành cụ chẳng có tiền mà cho ai đồng nào! Đó là một thủ đoạn khôn khéo của bác Đốc Tiến tôi! Ngay cả đến giấy tờ về cái Đồn Điền Tam Lộng các cụ cũng bị bác Đốc Tiến tôi cho vào xiếc. Bác bảo với cụ Đô: việc trông nom khai thác Đồn Điền nhiều giấy tờ phải gặp các quan Tây luôn luôn, vậy cụ Đô nên làm cho bác một tờ giấy ủy quyền (procuration génerale) để bác thay cụ đi công việc. Đến khi cụ Đô thò tay ký rồi...bảo bác làm gì bác cũng lờ đi. Cụ Đô bị lừa! Đau lắm! Song chỉ phàn nàn với con cái rằng: ''Thầy bị lừa@ Thầy chỉ thương cho lũ con cháu của nó sau này sẽ phải đền tội trước mặt Thiên Chúa!''
Trong gia đình này chỉ chị Trung tôi là hay. Vì ở Đồn Điền nên chị bắn súng cưỡi ngựa rất giỏi! hị nói cưỡi ngựa ngại nhất là lúc ngựa 'hồi tào' tức là lúc ngựa về chuồng! Khó lấy chồng, vì ít có dịp gặp các bạn trai. Đến khi anh Đạo chống Việt Minh thì chị Trung vừa là nữ cứu thương săn sóc bệnh binh, vừa là phụ tá của anh Đạo. Mỗi lần anh Đạo đi vắng thì chị Trung phải thay anh Đạo giữ Đồn Điền. Nhiều lần Việt Minh đem quân đến phá Đồn Điền thì chị Trung phải chống giữ. Chị chỉ huy quân trong Đồn Điền bắn trả Việt Minh. Những thằng nào leo vào chị hạ nó bằng tiểu liên...Chung quanh Đồn Điền là lũy tre xanh cao ngất, bề dầy của lũy tre tới 4m. Dưới gần lũy tre đào tranchée, quân lính núp ở dưới. Chị Trung đã nhiều lần chống trả tụi Việt Minh một cách oanh liệt. họ leo vào là chị hạ tụi nó rụng như sung!
Sau cùng chị bị bắt cùng với cha là bác Đốc Tiến, vì VNQDĐ bắt tay với Việt Minh, lập chính phủ liên hiệp. Anh Đạo tôi trốn sang Tầu, chị Trung và bác Đốc Tiến đi tù ở mạn ngược. Nhưng chị có một triết lý rất đáng phục! Chị nói: '' ai vào tù cũng buồn, cũng khóc. Cơm hẩm họ bưng vào dá với chút muối cho ăn, lại không chịu ăn, cứ khóc...Chị thì không như vậy! Họ đem cơm lên là chị ăn liền, nóng sốt ngon lành! Tối đến chị lấy hòn gạch, cuộn áo ra ngoài gối đầu, chị ngủ rất ngon! Sáng ra, chị dậy dọn dẹp sạch sẽ chỗ ở. Chị còn giúp đỡ những người tù bị đau ốm, chị rửa ráy những vết thương cho họ, chị xin thuốc cho họ uống, nếu cần phải chích, chị xin thuốc chích cho họ. Việt Minh thấy chị tử tế, giúp đỡ mọi người thì cũng đối xử tử tế với chị. Họ hỏi chị:'' Sao không lấy chồng?'' Chị trả lời: ''Xấu, nên không ai lấy!'' Tụi nó bảo ''con gái mà không lấy chồng là ghê lắm đấy!'' Chị chỉ cười mà không trả lời.
Chị như vậy thực là giỏi! Chị học chữ Nho cũng giỏi! cũng học cụ Tử An Trần Lê Nhân khi cụ còn làm Đốc học ở tỉnh Vĩnh Yên. Tôi thì học cụ ở Đại học Hanoi và ở chùa Ngọc Sơn, giữa hồ Hoàn Kiếm! Gái họ Đỗ kể như chị Trung thì là bậc nhất! Chị là một người có tánh tình vui vẻ, nhanh nhẹn. Đối với việc đời rất am hiểu. Hành động một cách sách hoạch, sâu sắc! Nhờ có tài trị việc như vậy, nên sau khi anh Đạo mất rồi, chị được chánh phủ VNCH mời lên giao phó việc trông nom dậy bảo đàn con thơ dại của anh Đạo tôi để chị Đạo rảnh tay, rảnh trí đi làm lấy tiền nuôi sống mẹ già, con dại! Về sau này các con anh Đạo tôi đều nên người, cũng là nhờ ở cách trị gia nghiêm chỉnh, giáo tử hữu phương của chị Trung tôi. Một người con gái họ Đỗ có tâm hồn khoáng đạt, chẳng kém gì những bực tu mi nam tử! Chúng tôi thực lấy làm vui mừng và hãnh diện có một người chị em như vậy!
Con gái họ Đỗ không có học hành, đỗ đạt gì cao siêu, song sẵn có tinh thần thiên phú, truyền thống của gia đình. Có lý tưởng cao đẹp! Trên thực tế vẫn là người tề gia nội trợ, mà nội trợ giỏi! Vật chất cũng như tinh thần, lấy thanh cao đạm bạc làm thú vui. Giá được học hỏi, huấn luyện kỹ càng như ở các nước văn minh tiền tiến thì không thiếu gì người làm nên những sự nghiệp không kém gì nam giới!
Người Em Gái Mến Tiếc
Tôi muốn nhắc lại đây để tưởng nhớ đến một người em gái tài hoa, người ấy là em út của tôi, sinh tại Villa Chân Sơn vào năm 1929, mất tại Hanoi vào ngày 16 tháng Mars 1979. Cô như vậy cô chưa được tròn 50 tuổi thọ, cô tên Isabelle Đỗ thị Nga và lúc đi hát có tên Minh Đỗ.
Vì cha mẹ chúng tôi kết hôn sớm nên mẹ tôi mới có ngoài 30 tuổi mà đã sinh được một đàn con 6, 7 đứa...bà nghỉ sanh một thời gian 4, 5 năm và sau đó lại tiếp tục sinh thêm 4 người con nữa, trước khi ngừng hẳn. Đoạn sau này bà sinh ra hai nhà nghệ sĩ: người con trai tên Dominique Đỗ Đình Thiều một thời đã được nổi tiếng vì thổi sáo clarinette, các nhà âm nhạc thường gọi là Đỗ Thiều, còn người con gái thì thành một nữ danh ca.
Thời kỳ sinh ra hai người này đúng vào thời kỳ gia đình chúng tôi đang thịnh vượng. Chúng tôi đượ hưởng những ngày xanh đầy vui chơi thích thú trên một bãi biển cách tỉnh Hải Phòng 23km. Ngọai trừ những giờ a9n giờ ngủ, giờ đi học, chúng tôi thường thường suốt ngày trên bãi biển: tắm táp, đi câu, chạy theo những con dạ tràng trên bãi cát...hoặc đi lang thang ven sườn đồi bên cạnh những làn sóng vỗ ầm ầm; mắt nhìn những cảnh trời cao lồng lộng, những con thuyền xa tít trên mặt biển xanh rờn, những hải đảo xa gần, nhấp nhố ẩn hiện. Những đêm hè chạy chơi trên mặt cát phẳng lì, dưới ánh trăng vằng vặc. Tai nghe sóng vỗ, thông reo, gió lộng từ biển khơi đưa lại. Lúc nào cũng có những tiếng ù ù hoặc rèo rèo ở bên tai. Bốn mùa sống giữa biển trời, núi nước, quả thực đã khiến tâm hồn khoảng khoát không ít.
Giữa cảnh thiên nhiên tuyệt sắc ấy thì cô em tôi chào đời, bởi vậy chắc cô đã bẩm thụ trong bào thai những gì thanh thú, những gì thơ mộng, những gì tuyệt mỹ, tuyệt hảo của tạo hóa đã nuôi dưỡng trong tinh hài nhỏ bé để trở thành một con người phong phú nhất về tình cảm, dào dạt cảm súc và dễ rung động như những đường tơ trên phim đàn. Đến sau này cô lại được ăn học bồi dưỡng về văn hóa cũng như về âm nhạc...Cô đã trở thành một người có bản sắc về nhạc, bởi giọng hát trời cho, bởi tâm hồn thiên phú về ca nhạc. Vì vậy cô đã trở nên một nghệ sĩ có danh tiếng dưới chánh thể Cộng sản của miền Bắc VN. Mà không những miền Bắc, cả giới nghệ sĩ miền Nam, cả nước cũng đều biết cô là một ca sĩ có biệt tài, có một giọng hát truyền cảm, một kỹ thuật điêu luyện. Cũng chính vì cái tài phú bẩm ấy và tánh tình dễ thương của cô nên một nghệ sĩ đã đeo đuổi và kết duyên với cô, dù người ấy đã có gia đình rồi. còn cô lúc đó nhỏ dại, lại sống xa gia đình vì thời cuộc, làm sao tránh khỏi lỗi lầm khi tấm thân trong trắng của một vị mĩ lưu, tù hi cha sinh mẹ đẻ chỉ biết sống dưới mái gia đình, nay phút chót phải xa lìa tổ ấm vì loạn ly, để chen vai với những cạnh tranh nơi trần ai tục tử.
Thế rồi hoàn cảnh đã đưa đẩy, gần toàn bộ đại gia đình đã đi vào Nam để tìm lấy nền tự do, và từ đó là cảnh chia ly và cũng là ngày đi đến vĩnh biệt! Cô đã ở lại đất Bắc với người chồng và có được mọt đàn con... Nhưng từ đó tấm lòng tha thiết nhớ thương mẹ già, anh chị em ruột thịt đã làm cho tâm khảm cô có một mối đau thương vô hạn. dù khi trở về ấp La Ngạn, nơi mái nhà xưa cũng không được nhìn thấy hình bóng của một ai thân thích, mẹ già các anh chị em đều đã đi khỏi nơi này. Dù phiêu lưu hay đi trình diễn tân bên trời Âu, đâu đâu cũng chẳng thể tìm thấy lại những hình bóng thân yêu ruột thịt, vì mọi người đều đã xa lìa xứ sở.
Sự đau buồn bất mãn với tâm hồn nghệ sĩ, dẫu gì quên nổi những ngày tươi đẹp xa xưa, nên tâm tư càng trở nên uất hận, đau thương cho thân thể, xót xa tủi phận...Đến nay hình hài đã yên dưới ba tấc đất, mọi sự vui buồn, danh vọng đã chìm vào dĩ vãng...chỉ còn lưu lại trong lòng những người mến thương....những người ruột thịt sống rải rác trên khắp năm châu bốn biển, với tấm lòng nhớ tiếc tiếng hát, giọng tài hoa...của một nhà nghệ sĩ giàu tình cảm! Con người ấy đã ra đi...đi mãi trên đường muôn dặm, như hoa trôi, như nước chảy trên trường giang vô tận!
NĐL viết thêm:
Chu Văn Lễ có phê bình về ca sĩ Minh Đỗ như sau:
'' Minh Đỗ là giọng ca vàng của đài phát thanh Hanoi trước năm 1954. Cô nổi tiếng là ca sĩ với một giọng hát khỏe, vang, cao vút và kỹ thuật điêu luyện. Không biết cô bắt đầu đi hát năm nào nhưng đầu thập niên 50s thì tên tuổi cô cũng đã ít nhiều được công chúng chú ý. Tiếc là hiện vẫn chưa tìm được bản ghi âm nào của giọng ca Minh Đỗ trước năm 1954 để giới yêu nhạc có thể thưởng ngoạn. Sau năm 1954, ca sĩ Minh Đỗ ở lại miền Bắc và hội nhập với cuộc sống mới. Cô được cử đi tu nghiệp ở nhiều nơi rồi dần dà thay đổi cách hát để phù hợp với phong cách hát mag tính chiến đấu của xã hội miền bắc thời bấy giờ.
Khoảng giữa thập niên 60s, ca sĩ Minh Đỗ có sang lưu diễn bên Âu Châu và được nhóm Việt Kiều Yêu Nước ghi âm một dĩa nhựa 45 vòng gồm một số bài dân ca VN. Chương trình này được thực hiện như là cách phản ứng lại một dĩa nhạc dân ca VN được hãng Sóng Nhạc trong Nam thực hiện với hai giọng ca Thái Thanh và Thái Hằng. Điều đáng tiếc là giọng của ca sĩ Minh Đỗ lúc này đã thay đổi và không còn nét mượt mà của người hát tình ca mà thuần một kiểu hát mang nặng tính cách chiến đấu đặc trưng cách hát của các nước XHCN. Dù sao, dĩa hát dân ca này cũng ít nhiều giúp người thưởng ngoạn được giọng ca Minh Đỗ huyền thoại của đài phát thanh HN năm xưa.'' C.V.L, 7 tháng 11, 2018
Gia đình tôi có nhận được dĩa hát này của Dì Nga (Minh Đỗ). Lúc đó tôi vẫn còn là một thiếu niên độ 14 tuổi đầu, nghe đâu Bác Hồ (không phải lãnh tụ vĩ đại HCM!) mua được ở Paris và tặng mẹ tôi lúc bấy giờ chúng tôi đang ở Saigon, vào khoảng năm 1964. Cả nhà đang ăn cơm và nghe bản ''yêu nhau, đổi áo cho nhau...'' thì chị cả tôi cảm xúc ứa lệ khóc vì chưa hề được nghe giọng của người em gái của mẹ mình...Thế là mẹ tôi cũng khóc, rồi cả nhà cũng xụt xịt khóc theo...!
NĐL
Những lời cuối
Theo thiển ý tôi nghĩ bất cứ một người nào muốn làm nên một chuyện gì đều bắt buộc phải có cái vốn đạo đức và ăn học là điều tiên quyết. Làm lớn chừng nào thì càng phải tích lũy nhiều hai điều kiện trên chừng ấy! Người ta nói: thiên thời, địa lợi và nhân hòa.
Thiên hòa có nghĩa là thời cơ thuận tiện nhưng cũng có thể bảo là do phúc đức mới có được thời cơ thuận tiện! Phúc đức ấy do ông bà để lại và cũng do chính mình làm ra... Nói một cách khác, có ông bà ăn ở phúc đức thì con cháu đa số cũng trở thành người ăn ở phúc đức! Song cũng có ông bà không có phúc đức gì lắm mà con cháu lại là người rất có đức độ! Trái lại có ông bà ăn ở phúc đức mà con cháu ăn ở chẳng phúc đức tí nào? vậy cho nên tôi muốn nói phải tích lũy nhiều đời liên tiếp và đến chính bản thân thì lại càng cố gắng thêm, họa là mới gây nên được thời cơ thuận tiện.
Địa lợi có nghĩa là có địa thế thuận lợi, nhưng không phải là mình ở vào cái vị trí thuận tiện về mọi mặt cả đâu! Địa lợi cũng có thể là có đất đai, tài sản, có uy tín, có tài năng có đức độ, có đủ tư thế, tư cách để thiên hạ quy hướng về mình. Cũng như mình ở vào một vị trí thuận lợi, đủ phương tiện để làm những việc lớn, để thiên hạ trông thấy mình một cách dễ dàng, khi mình muốn ứng phó vào những công việc phò nguy cứu khổ, cứu dân trong con nước lửa!
Đến nhân hòa thì hoàn toàn là được mọi người ủng hộ rồi. Khi đã ở vào địa vị đó thì sự thành công đã đi đến gần chỗ đích rồi...chỉ còn lo sao cho mình giữ được thủy chung mãi mãi...Cố gắng tiến theo mọi biến chuyển của trời đất và lòng người, giữ sao cho tâm mình không biến động trước vật dục, trước tham vọng. Đó là những điều tiên quyết tối thiểu...Nếu xét mình chưa đủ bằng ấy thứ thì tưởng chẳng nên ham hố làm gì? Việc đời đâu có phải tất cả là ở mánh lới mà thành, nếu mánh lới mà thành thì cũng không bền vững, chỉ được nhất thời...Nhưng vấn đề không phải thuộc phạm vi ở đây, vậy xin ngừng, không bàn thêm làm gì nữa!
Tác giả: Đỗ Trác Tư
Boise, Idaho












Cám ơn hai anh đã đăng hồi ký quý báu này của bác gái. Em là cháu nội ông Năm.
ReplyDelete